Phạm Trọng Yêm

 

Phạm Trọng Yêm từ nhỏ đã thích binh thư, đặc biệt có nghiên cứu sâu Tôn Tử binh pháp, hơn nữa, võ thuật hơn người, bắn cung điêu luyện.>>Khóa luyện thi violympic

Qua một thời gian khảo sát thực địa, một mặt dâng biểu lên triều đình kiến nghị cải cách binh chế, một mặt nghiêm túc luyện binh, căn cứ địa hình của Diên Châu và tình trạng thực tê của binh sĩ. Đương thòi quy định Đô Thự thống lĩnh một vạn người, Kiểm hạt 5.000 người, Đô Giám 3.000 người, gặp địch tiến công thì lần lượt tướng lĩnh chức vụ thấp xuất chiến trước tiên. Phạm Trọng Yêm cho rằng không căn cứ kẻ địch nhiều ít mạnh yếu mà theo chức quan lớn nhỏ để dụng binh trước sau một cách cứng nhắc, đó là lẽ thất bại. >>thông tin giáo dục

Ông bèn đem một vạn tám nghìn binh sĩ hiện có ở Diên Châu chia thuộc vào 6 tưống, mỗi tướng nhận 3.000, thời bình phụ trách huấn luyện, thòi chiến, căn cứ binh lực địch yếu mạnh mà tạo thời cơ xuất chiến, do vậy thay đổi được biên chế và phương pháp dụng binh không hợp thực tế.

Về sau Phạm Trọng Yêm lại bị điều đến Khánh Châu nắm công tác phòng thủ vùng Hoàn, Khánh. 0 đó ông vỗ yên ngưòi Khương, xây đắp thành lũy, tuần tra cứ điểm tiền duyên, nâng cao sĩ khí quân đội, tăng cường được việc phòng thủ.

Trong nhiều năm ở biên phòng, Phạm Trọng Yêm đã có nhiều cống hiến lớn trong việc cải cách binh chế, kỷ luật nghiêm minh, xây thành đắp lũy khắc khổ luyện binh, chiêu mộ bách tính khai hoang doanh điền, yêu mến binh sĩ, ổn định dân biên cương. Quân Tây Hạ không còn dám tự tiện hoành hành, làm cho biên cương Tây Bắc triều Tống thoát khỏi nguy cơ, trỏ lại ổn định dần. Kẻ địch nói ông là “trong ruột có mấy vạn giáp binh”, binh sĩ thì ca ngợi “quân ngũ có ông Phạm, kẻ địch nghe tiếng sợ võ mật”.

Năm Khánh Lịch thứ ba (1043), Tống Nhân Tông bổ nhiệm ông làm Tham tri Chính sự (tương đương Phó Tể tướng) và hỏi ông về chính sách trị nước. Sau khi suy nghĩ cẩn thận, ông viết ra 10 điều cách tân tệ chính (đổi mối tệ nạn trong chính trị). Trong kiến nghị, ngoài các biện pháp phát triển sản xuất xã hội, giảm nhẹ gánh nặng lao dịch cho nông dân và tăng cường lực lượng phòng vệ như “hậu nông trang” (coi trọng làm ruộng trồng dâu), “tu võ bị” (sửa đổi chỉnh đôn quân sự), “giảm lao dịch” (bốt phu phen lao dịch)… chủ yếu nói về các mặt tuyển chọn, đề bạt, sử dụng, truất biếm và hạn chê quan lại, đã đề ra phương án cải cách mạnh dạn. Ong dôc sức chủ trương kén chọn nhân tài, căn cứ vào chân tài thực học chứ không phải gia ân thầm lén, sửa đổi chế độ khoa cử ngày trước chuyên lấy thi phú chọn quan, đưa trọng điểm thi cử vào sách lược trị quốc; quyết định thăng giáng quan chức theo cống hiến lớn nhỏ chứ không theo thâm niên, giảm bốt quan nhũng (quan vô dụng, không được việc), triệt để loại trừ tham quan ô lại. Tống Nhân Tông phê chuẩn 10 điều kiến nghị của ông và cho ban hành trong cả nước. Đó là “Khánh Lịch tân chính” (chính sách mới Khánh Lịch) nổi tiếng trong lịch sử.

Nhưng ban hành tân chính lại động chạm lợi ích của quan liêu lớp trên và hoàng thân quốc thích, nên bị họ phản đối và công kích kịch liệt. Bọn họ tụ tập lại, dùng nhiều thủ đoạn ác độc, ra sức đặt điều vu khống Phạm Trọng Yêm, làm cho sắc chỉ “Khánh Lịch tân chính” nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh ban hành không đến một năm đã bị thất bại. Một lần nữa, Phạm Trọng Yêm bị hạ chức đày đi giữ Ngân Châu. Lúc đó ông 57 tuổi. Nhưng lòng vẫn nặng việc nưốc. Tháng 9 năm Khánh Lịch thứ chín (1064), Đằng Tử Kinh, người bạn bị giáng chức mòi ông viết cho một bài văn ký nhân trùng tu lầu Nhạc Dương. Ông đứng trong cửa sổ nhìn ra trăng sáng, lặng yên suy ngẫm nhìn lại cả đời long đong, lòng dạ ngổn ngang. Bèn ngồi vào bàn viết, văn chương tuôn trào, trong một đêm viết ra bài “Nhạc Dương lâu ký” (bài ký vê lầu Nhạc Dương) lưu danh ngàn thu. Bài ký này kết hợp biền ngẫu vối văn xuôi, tình cảnh giao hòa, ý tứ sâu xa, khí thê hào hùng. Chủ đề “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trưốc cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ) trước nay được mọi người ca tụng.

Leave a Comment