QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – THANH THỜI VUA QUANG TRUNG phần 2

QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – THANH THỜI VUA QUANG TRUNG phần 2

Khang An đã khéo dàn xếp ở ngoài, các thần (bầy tôi trong nội các) Hòa Thân lại vận động ở trong, như: xin bãi binh, đừng gây sự ở ngoài biên thùy để khỏi làm lao phí trong nưóc, lại xin vua Thanh phong vua Quang Trung làm quốc vương để thay nhà Lê trị vì. Rồi lấy lịch sử làm chứng cớ,

>>Luyện thi Violympic-kinh nghiệm vượt qua những câu hỏi khó

Hòa Thân nói vối vua Càn Long: “Từ xưa đến giò, Trung Quốc chưa bao giò đắc chí ở cõi Nam cả. Chính Tông, Nguyên, Minh rút cục cũng đểu thua hỏng: gương ấy không xa, hãy còn sò sờ”. Vì vậy, hẳng bao lâu, vua Thanh cũng phải vuôt bụng làm lành, xiiềm nở chìa tay đón lấy Tây Sơn, nhưng không quên “rửa mặt” bằng mấy điều kiện này:

Thứ nhất: Để đền bù cái chết của đề trấn Hứa Thế Hanh, Tây Sơn phải lập cho cái đền thò tại nước Nam mà xuân thu trí tế viên tướng tử trận ấy.

Thứ hai: Quốic vương nước Nam, sang năm, nhân dịp bát tuần khánh thọ của vua Càn Long, phải thân sang triều cận.

*

  • *

Sau khi đã áp đảo được nhà Thanh về mọi phương diện, vua Quang Trung bể ngoài mềm dẻo chịu phong, được Mãn Thanh chính thức thừa nhận, hòa hoãn được việc ngoại giao, chuyên lo mọi việc kiến thiết nội bộ; đôi vói trong nưốc được dân chúng biết rõ sự mình lên cầm chính quyền, là danh chính ngôn thuận, xứng đáng thay thế triều Lê.

>>Các bài giảng hay:XEM Ở ĐÂY

Ngày 26 tháng bảy năm Kỷ Dậu (1789), được tin có chỉ dụ của vua Càn Long, phong vua Quang Trung làm An Nam quôc vương, vì không muốn phải ra Thăng Long mà muôn ép sứ giả nhà Thanh phải thân vào tận Thuận Hóa để làm lễ truyền phong, nên vua Quang Trung đã kiếm cớ này cớ khác để làm cho nhà Thanh buộc phải chấp nhận.

Khi thấy việc ngoại giao đã tiến triển tốt đẹp, vua Quang Trung liền đứng tên khác là Nguyễn Quang Bình vào một bức thư nhũn nhặn hơn, rồi sai cháu là Nguyễn Quang Hiển, bầy tôi là bọn Vũ Huy Tấn, Ngô Vi Quý và Nguyễn Đình Cừ sang Thanh để tăng cường mối quan hệ thân thiện giữa hai nước.

Đại lược bức thư ấy: “Tôi nổi lên từ Tây Sơn, lấy được đất Quảng Nam trước, đối với nhà Lê, vốn không phân biệt trên dưới.

Năm ngoái (1788), đã sai người sang gõ cửa Thượng quốc, giãi bày duyên cớ gây chuyện với nhà Lê, nhưng vì biên thần dìm thư, cho nên không đạt lên được.

Kịp khi quan quân Thượng quốc ra khỏi cửa ải để chực tiến đánh, thì tháng giêng năm nay (1789), tôi trước đến đô thành nhà Lê, muôn hỏi Lê Duy Kỳ về cớ tại sao cầu viện. Chẳng dè quan quân Thượng quốc mới thoạt trông thấy, đã vội hăng hái giết bừa! Bọn thủ hạ tôi khốn nỗi bó tay chịu trói. Lại gặp cầu sông đứt gãy đến nỗi quan quân có sự tổn thương!

Xiết đỗi sỢ hãi, nhiều lần tôi phải sai người sang gõ cửa ải, tạ tội và xin đưa trả những quan quân còn sót lại. Còn người giết hại quan Đề trấn (tức Hứa Thế Hanh) thì chính tôi đã mắt thấy phải trị tội rồi.

Đáng lẽ tôi phải thân đến cửa khuyết, giãi tình, tạ tội là phải; ngặt vì nước tôi vừa mới qua cơn binh lửa, dân tình chưa yên, nên phải kính sai cháu tôi là Nguyễn Quang Hiển theo biểu vào chầu…”.

Sứ bộ của phe chiến thắng, lẽ tất nhiên phải được kẻ bại trận dầu kẻ ấy vẫn tự mệnh là “Thiên triều”, là “Thượng quốc” tiếp đón niềm nở, long trọng.

Chuyên Quang Hiển đi sang Thanh này cũng có Ngô Văn Sở cùng với Nguyễn Văn Danh và các vệ sĩ đi theo. Khi vua Thanh hay tin sở cũng muốn tiến kinh với Hiển, thì truyền bảo Sở nên quay về vì vua Thanh nghĩ rằng bấy giò nước Nam vừa mối tân tạo, mà sở là một tay đắc lực, nên cần để sở lo việc trấn thủ trong nước. Đó là vua Thanh tỏ ý thể tất và săn sóc đến việc nưốc cho Tây Sơn.

Khi sứ bộ về, vua Thanh, để tỏ tình thân mật yêu quý, có gửi tặng vua Quang Trung một chuỗi trân châu. Sau đó trịnh trọng đem cái “sách phong An Nam Quốc vương”, Thành Lâm, hậu bổ Quảng Tây, vâng mệnh vua Thanh, niềm nở sang Nam, lấy lòng khách chiến thắng.

Không muốn chịu phong ở Thăng Long, vua Quang Trung nói thác với sứ Thanh là Thành Lâm, khi Lâm mới đến cửa Nam Quan: “Thành Thăng Long đã tắt hết vượng khí; xin mời sứ giả vô Phú Xuân”.

Thành Lâm cho thế là trái lệ, không chịu vào Thuận Hóa.

Vua Quang Trung cũng găng, không buồn ra Bắc để nhận tờ sách phong của một “Thiên triều”, nên cứ thoái thác, như đã thấy ở mấy bức thư trên, là nhà vua đang se mình, dùng dằng lần lữa mãi.

Nhưng rồi việc ấy kết thúc bằng cách sai cháu ngoại là Phạm Công Trị mạo thay nhà vua đứng nhận phong.

Còn sắc và ấn thì ngày 12 tháng chạp, năm Canh Tuất (179Q), Giả vương nước Nam khi sang Thanh, đi đến ải Nam Quan, có sai lũ bồi thần là Nguyễn Văn Danh và Ngô Văn sỏ đem bọn vệ sĩ đến Chiêu Đức đài nhận lĩnh vào ngày 13 tháng ấy.

*

  • *

Thời bấy giờ ở Việt Nam nhân sâm còn rất hiếm, muốn người Thanh phải “cung cấp” nhân sâm, nhưng không muôn mang tiếng là đi xin, vua Quang Trung hành động rất khôn khéo: cho Nguyễn Hoành Khuông sang Thanh đem theo một bức thư; trong đó, nhà vua dặn sứ thần mua nhân sâm, vì Quốc thái (mẹ vua Quang Trung), tuổi đã 80, cần dùng nhân sâm để bổ dưỡng sức khỏe.

Nhà vua liệu trước rằng bức thư dặn mua sâm đó tất sẽ lọt đến bọn quan lại ở biên giới nhà Thanh trước. Một khi họ đã hay biết việc đó, lẽ tất nhiên họ phải tìm cách “lấy lòng” khách chiến thắng, thì thế nào họ chẩng phải dâng sâm đến tận nơi.

Quả nhiên, khi Phúc Khang An xem bức thư dặn mua sâm ấy, không lẽ làm lơ, nên phải kiếm ngay bôn lạng nhân sâm, giao Thang Hùng Nghiệp cắt người ruổi ngựa đưa sang tận Lạng Sơn để nhờ chuyển lên Quang Trung Hoàng đế.

Cũng việc này năm Canh Tuất (1790), vua Càn Long nhà Thanh còn nhận được tờ tấu của Tôn Vĩnh Thanh nói về việc vua Quang Trung dặn Nguyễn Hoành Khuông mua sâm, vua Thanh liền sai mở kho Thượng phương, tặng ngay một cân nhân sâm tốt nhất.

Thê là vua Quang Trung được vua tôi nhà Thanh hai lần biếu nhân sâm, một của rất quý đốĩ với thời đại bấy giờ, theo như lòi vua Thanh Càn Long đã nói trong tò dụ khác:

“Nhân sâm không phải là của dễ kiếm được, thế mà Thiên triều ban cho như vậy, thật là cái ơn chan chứa ngoài lệ thường”.

Nhận được nhân sâm rồi, vua Quang Trung sai viết biểu tạ vua Càn Long có những câu như:

“Thần hữu mẫu, hữu thân, báo đáp ngưỡng bằng ư đại tạo.

Quân vi sư, vi phụ, sinh thành thâm ký ư long chiêm…”.

Nghĩa là:

“Tôi có mẹ già, báo đáp nhờ công gâỳ dựng lớn,

Ngài là sư phụ, sinh thành mong tắm móc mưa rào”.

*

  • %

Mùa xuân Canh Tuất (1790), Phúc Khang An làm theo ý vua Thanh đã định trong tò dụ gửi cho vua Quang Trung, giục Quốc vương (Quang Trung) sửa soạn sang triều. Nhưng vua Quang Trung nói thác là có tang mẹ không tiện đi, xin sai con là Quang Thùy thay thế.

Cho thế là không nên. Khang An phái người sang Nam dỗ dành rằng: Cực chẳng đã, nếu Quốc vương không thân sang triều cận được, thì nên chọn lấy một ngưòi trạng mạo giống mình mà cho đi thay.

Sau khi được tin Quôc vương nước Nam – kỳ thực chỉ là Giả vương – sắp sang triều cận, triều Thanh nhộn nhịp lo sắp đặt mọi việc đón tiếp cho được chu đáo. Vua Thanh lại căn dặn Phúc Khang An lo cuộc hành trình cho vừa vặn, để Quốc vương đi đường được ung dung, không đến nỗi phải vất vả.

Vê phần vua Quang Trung, vẫn nhớ mình là nước nhỏ cần phải mềm dẻo trong cuộc ngoại giao, nên nhà vua chọn Phạm Công Trị, cháu gọi vua bằng cậu, cho đội tên mình, đóng vai Giả vương, sang Thanh mừng thọ.

Phương châm ngoại giao đã ấn định. Việc phái Giả vương sang Thanh liền được thực hiện. Sứ bộ gồm có các quan văn võ cao cấp: Ngô Văn sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy ích, Vũ Huy Tấn, Vũ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc và Đỗ Văn Công… Ngoài các yếu nhân đó, còn có Nguyễn Quang Thùy, con trai thứ của vua Quang Trung, cùng đi với Giả vương. Sứ bộ gồm 150 người đem theo tò biểu văn tạ ơn vua Thanh về việc tặng triều châu và hà bao do chuyên Nguyễn Quang Hiển sang sứ lần trước. Và đồng thòi lại cử sang Thanh một ban văn thự nhạc công đem theo mưòi bài từ khúc chúc thọ (khánh chúc vạn thọ từ khúc, thập chương) để biểu diễn, hát mừng vua Thanh trong dịp bát tuần vạn thọ.

Mười bài chúc hỗ ấy là do Phan Huy ích, vâng mệnh vua Quang Trung làm ra, rồi sai viết vào bức kim tiên, đệ sang Thanh. Còn việc lựa lấy mười người nhạc công theo sang triều cận để biểu diễn 10 bài chúc phúc ấy theo dịp phách giọng ca, là do chỉ dụ vua Thanh đã dặn từ trước.

Về sau, khi sứ bộ sang tới nơi, dự yến ở ngự điện, bộ Lễ nhà Thanh dẫn nhạc công nước Nam vào hát mừng. Vua Thanh đẹp lòng, khen ngợi, hậu thưởng cho tiền tệ; lại sai quan thái thường kén lấy 10 người tuồng hát (lê viên) ăn mặc theo lối nhạc công Nam: đội mão tú tài, vận áo cổ tràng (giao lĩnh y), đồng thòi hòa tấu giữa những tiếng đàn, tiếng sênh, tiếng trông.

Vua Thanh lại vòi nhạc công nước Nam vào trong cung cấm dạy những người “lê viên” ấy hát tiếng Nam, diễn khúc điệu; vài ngày tập quen.

Khi mở tiệc, người ta dẫn nhạc công Nam và Bắc chia đứng hai hàng, đốỉ mặt mà hát; thể cách cùng phù hợp nhau.

Leave a Comment